Chuyển đến nội dung chính

So sánh các dị bản truyện "Thầy bói sờ voi" và tâm thức dân tộc

Trước hết hãy đọc ba dị bản truyện sau đây. Truyện cổ dân gian Ấn Độ (Nxb. KHXH, H.1982) kể như sau:

CON VOI VÀ BỐN NGƯỜI MÙ

Bốn người mù đi dò dẫm trên đường. Từ phía trước, một con voi đang tiến lại.

- Kìa hãy tránh cho voi đi! Khách qua đường thét bốn anh mù.

Bị tính tò mò kích thích, họ hỏi :

- Thế con voi nó như thế nào? Cho chúng tôi xem với?

Khách qua đường bèn xin ông quản tượng dừng voi lại. Ông quản tượng đồng ý dừng voi lại và bốn người mù lần đến sờ voi. Người thứ nhất sờ được cái vòi, người thứ hai sờ cái chân, người thứ ba sờ cái bụng và người thứ tư túm được cái đuôi. Sờ xong ông quản tượng liền đánh voi đi. Khách qua đường hỏi bốn người mù:

- Thế nào? Bây giờ các anh đã biết được hình dáng con voi rồi chứ?

- Vâng, bây giờ thì chúng tôi biết rồi.

- Thế nó ra làm sao?

Người mù sờ được vòi nói:

- Nó giống như như con rắn to cuộn tròn lại.

Người mù sờ cái chân nói:

- Không phải, anh nhầm rồi. Nó giống như cái cột nhà chứ!

Người mù sờ cái bụng nói:

- Hai anh nhầm. Con voi giống như thùng chứa nước.

Người mù sờ đuôi nói:

- Các anh điều nói sai bét. Nó giống sợi dây tam cố dùng để buộc thuyền.

Thế là bốn người mù đều bị nhầm lại ba hoa với nhau.

Tuy vậy mỗi người trong bọn họ đã nói được một phần sự thực: ai biết ngần nào thì nói ngần ấy.

(sđd, tr.337-338).

* Trong Kinh Niết Bàn và Kinh Trường A Hàm lại kể như sau:

NGƯỜI MÙ SỜ VOI

Ngày xưa có một ông vua sai đại thần dắt đến một con voi cho một bọn người mù sờ xem. Sau đó vua hỏi: "Các ông đã biết voi chưa?"

- Biết rồi! Bọn người mù đáp.

- Thế voi như thế nào?

- Voi xem ra như cái đòn xóc. Người sờ ngà voi bảo.

- Voi như cái quạt. Người sờ tai nói.

- Voi như tảng đá. Người sờ đầu voi đáp.

Người sờ vòi lại bảo: "Voi giống như cái chày".

- Voi giống như cái hộp gỗ. Người sờ mắt voi nói.

- Không phải. Voi như cái giường. Người sờ lưng voi khẳng định.

- Theo tôi con voi như cái thùng to. Người sờ bụng voi kêu lên.

- Đừng cãi nhau nữa, con voi như sợi dây thừng. Người sờ đuôi xác nhận.

Nhà vua nghe bọn mù tranh cãi nhau, cảm khái nói:
Người mù đều rất đông
Tranh nhau nói sự thật
Voi vốn chỉ một thân
Thị phi lại bất đồng

(Trích theo Hồng Phi Mạc"Cầm hoa mỉm cười", BK.1999 tr.30, tiếng Trung)

* Truyện ngụ ngôn Việt Nam do Trương Chính kể lại có khác:

THẦY BÓI SỜ VOI

Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói nói chuyện với nhau. Thầy nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó như thế nào. Chợt nghe người ta nói có voi đi qua, năm thầy chung nhau tiền biếu người quản voi, xin cho voi dừng lại để cùng xem. Thầy thì sờ voi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi.

Đoạn, năm thầy ngồi bàn tán với nhau

Thầy sờ vòi bảo:

- Tưởng con voi nó thế nào, hoá ra nó sun sun như con đỉa.

Thầy sờ ngà bảo:

- Không phải! Nó dài dài như cái đòn càn.

Thầy sờ tai bảo:

- Đâu có! Nó bè bè như cái quạt thóc.

Thầy sờ chân cãi:

- Ai bảo? Nó sừng sững như cái cột đình.

Thầy sờ đuôi lại nói:

- Các thầy nói sai cả. Chính nó tua tủa như cái chổi xể cùn.

Năm thầy, thầy nào cũng cho mình nói đúng, không ai chịu ai, thành ra xô xát, đánh nhau tọac đầu chảy máu.

(Theo Trương Chính: Bình Giải ngụ ngôn Việt Nam, Nxb. Giáo dục, 1998)





Qua ba dị bản trên, cốt truyện hầu như giống nhau, nhưng khác nhau về mấy điểm sau:

1. Hai dị bản Ấn Độ đều gọi là "người mù"còn riêng Việt đổi thành "thầy bói".

2. Cách cảm nhận các bộ phận của con voi khác nhau, do tập quán và tâm lý dân tộc khác nhau. Ví dụ ở Ấn Độ, Trung Quốc, người ta cảm nhận cái cái đuôi voi như sợi thừng, còn người Việt Nam cảm nhận như cái chổi xể cùn, cái vòi như con đỉa, chân như cột đình, tai như cái quạt thóc v.v...

3. Người khách qua đường và ông quản tượng Ấn Độ có vẻ tốt bụng dừng voi cho người mù sờ xem, mà không đòi tiền, còn bọn thầy bói và quản tượng trong dị bản Việt thì phải có tiền mới xong!

4. Truyện Ấn Độ không có ý châm chọc, mạt sách người mù, tuy họ nói không đúng, nhưng cũng thừa nhận họ nói được một phần sự thật: ai biết ngần nào thì nói ngần ấy. Đó cũng là một triết lý nhân sinh.

Truyện kinh Phật lại sâu thêm ở tính triết lý Phật giáo. Voi vốn là một thể, nhưng sắc tướng khác nhau, nên cảm nhận khác nhau. Người mù ở đây là tượng trưng cho chúng sinh, những kẻ nhìn thế giới theo "lục pháp" (sắc, thụ, tưởng, hành, thức, thần), cho nên chỉ có" vọng tưởng", hiểu lầm. Nếu chỉ chấp lục pháp thì không hiểu được chân như, phật tính. Nhà vua ở đây chỉ cảm khái cho chúng sinh, nhưng không giễu họ. Truyện ngụ ngôn Việt là một truyện châm biếm, một thể loại khác, có thể nói không giống với thể loại ngụ ngôn. Người mù biến thành "thầy bói ế hàng", toàn truyện giễu cợt một loại người làm nghề thấy bói, thầy bói là mù, không có ý nghĩa tượng trưng về chúng sinh và con người nói chung. Đã mù, phải làm nghề thầy bói vốn không ra gì, mà lại còn "không ai chịu ai", đến nỗi "xô xát, đánh nhau toạc đầu chảy máu" vì những chuyện không đâu! Thái độ khinh bỉ bọn thầy bói mù, chủ quan của truyện người Việt; là mạnh nhất, ít bao dung nhất.

5. Qua so sánh ba dị bản trên, hai dị bản dân gian Ấn Độ và kinh Phật, người kể là người hiểu chúng sinh, có quan niệm nhân loại, họ nhìn thấy trong người mù có bản thân họ, cho nên truyện kể nhẹ nhàng mà thâm trầm, hàm ý triết lý, không nhằm đả kích người mù. Dị bản Việt người kể tự đứng ngoài, tự coi mình là kẻ đứng cao hơn loại người khác, thu hẹp nội dung vào việc đả kích một bọn người thầy bói tầm thường. Do vậy nội dung triết lý sâu hơn.

6. Rõ ràng truyện Ấn Độ và truyện trong Kinh Phật là có trước, dị bản Việt có sau. Sự thu hẹp nội hàm triết lý trong dị bản này phải chăng cho thấy dị bản Việt Nam không mấy quan tâm nội dung triết lý, mà thích thú với cảm hứng thế sự, đứng bên ngoài mà chế giễu một lớp người cụ thể khác mình trong xã hội, như đã từng chế giễu thầy bói, thầy tu, thầy cúng, thầy địa lý, thầy đồ... Phải chăng chỉ qua một sự so sánh nhỏ này cũng thấy được phần nào sự thiếu hụt một tầm triết lý sâu xa trong dị bản dân gian Việt?

Nhưng dị bản Việt lại có một cái đặc thù riêng. Nó biến câu chuyện sờ voi thành một bi hài kịch của những kẻ dốt nát. Những chúng sinh mù loà ấy lại tự tin, tự phụ đến mức không ai chịu ai, xô xát đánh nhau toạc đầu chảy máu! Đó là chi tiết độc đáo có lẽ chỉ ở Việt mới có. Tôi đồ rằng, những kẻ mù đâu có khả năng nhìn thấy đối tượng? Cho nên cuộc xô xát không chỉ đánh lẫn nhau, có khi còn đấm vào cột nhà, lao đầu vào gốc cây, hòn đá bên đường cũng nên; và khi đánh nhau, bạ đâu đánh đó, đâu chỉ có chuyện toạc đầu, có khi đánh vào bụng, vào bộ hạ nữa. Tóm lại là một cuộc bi hài!

7. Tôi cứ nghĩ, tại sao chỉ do nhận thức khác nhau mà ở Ấn Độ người ta chỉ "ba hoa" với nhau, ở trong kinh Phật chỉ cãi nhau rồi thôi, đến Việt thì lại chuyển thành xô xát đánh nhau?! Phải chăng tâm thức dân gian Việt chưa tưởng tượng ra được một kết cục tốt đẹp hơn, triết lý hơn cho những bất đồng vặt trong cuộc sống?


Trần Đình Sử
Tạp chí Sông Hương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tự do với lương tâm trong sạch

Đối thoại giữa thủ tướng Vladimir Vladimirovich Putin với các nhà văn Nga: Tự do với lương tâm trong sạch TTCT - LTS: Đưa tin về cuộc gặp của Thủ tướng Nga V. Putin với các nhà văn tại Đại hội liên minh sách Nga ngày 28-9 ở Matxcơva, các báo Nga đều thống nhất trong nhận định: ông V. Putin đã lần nữa chứng minh sự sắc sảo và khả năng “thoát hiểm“ trong những tình thế khó khăn. Cuộc gặp cho thấy không khí tranh luận cởi mở, thẳng thắn nhưng cũng không thiếu sự hài hước đặc trưng của người Nga. TTCT trích giới thiệu. Thủ tướng Vladimir Putin và nữ nhà văn Tachiana V. Ustinova - Ảnh: AP Nguyên thủ và… sách Darya Dontsova (D.D., nữ nhà văn Nga nổi tiếng với hàng trăm đầu sách trinh thám hài hước, tỏ vẻ phật ý vì có lần ông V. Putin đã gọi sách của bà là “những thứ đọc dễ dãi”*): Vladimir Vladimirovich, tôi từng thấy ngài ngồi sau tay lái máy bay, trong tàu ngầm với súng trường, với cần câu, chỉ không lần nào thấy ngài dự khai trương nhà sách, không bao giờ cả. V. Putin: Tôi có chứ. D.D.:...

Cứu khốn phò nguy, lòng dạ thiện lương

“Nhân Đức không phải là thứ có thể giành lấy được, mà là gốc rễ của đạo làm người. Tôi tự thẹn cả đời làm quá ít việc thiện, vậy mà lại có được phúc báo quá lớn!” Đệ Ngũ Luân người Thiểm Tây, sống vào đầu thời Đông Hán nổi tiếng là một vị quan thanh liêm. Ông có tâm địa chính trực, làm nhiều việc tốt lành đức độ, chăm lo cho dân chúng. Dù làm quan nơi nào, ông đều xem việc cứu khổ cứu nạn cho dân là nhiệm vụ của mình. Đệ Ngũ Luân từ khi còn trẻ đã là người ngay thẳng và trọng nghĩa khí. Bất cứ khi nào bà con hay đồng hương có ai gặp khó khăn, ông luôn nóng lòng trợ giúp. Thời Vương Mãng loạn thế, đạo tặc hoành hành khắp nơi, trăm họ đều xem Đệ Ngũ Luân như một chỗ dựa đáng tin cậy, đề cử ông làm thủ lĩnh để chống lại đạo tặc. Đệ Ngũ Luân chỉ huy nhân dân xây công sự để tự vệ, quân nổi loạn Đồng Mã, Xích Mi chưa bao giờ bại được doanh lũy của ông. Đệ Ngũ Luân được quan lại địa phương khen ngợi, sau đó ông được bổ nhiệm làm một viên quan chuyên phụ trách quản lý việc tố tụng ...

66 Câu Phật Học Cho Cuộc Sống

1. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm. 2. Nếu anh không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho bạn. Vì chính tâm bạn không buông xuống nổi. 3. Bạn hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình. 4. Bạn phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương bạn, bạn phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực. 5. Khi bạn vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi bạn đau khổ, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn. 6. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai. 7. Bạn có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên. 8. Đừng lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định bạn sẽ ân hận. 9. Khi nào bạn thật sự buông xuống thì lúc ấy bạn sẽ hết phiền não. 10. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành. 11. Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, c...